Ngày 25/11/2009, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về dự án Luật Trọng tài Thương mại. Theo tờ trình của Hội Luật gia VN, cơ quan chủ trì soạn thảo, thực tiễn giải quyết tranh chấp trên thế giới cho thấy, trọng tài đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các thương nhân. Ở VN, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sẽ góp phần làm giảm tải hoạt động xét xử của Tòa án. Tại cuộc thảo luận này, TS Vũ Tiến Lộc – Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch VCCI đã có bài phát biểu đóng góp ý kiến về các vấn đề liên quan đến Dự thảo Luật Trọng tài Thương mại.

Tôi đánh giá cao nội dung Dự thảo Luật Trọng tài Thương mại lần này. Dự thảo đã khắc phục được nhiều bất cập của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại hiện hành đồng thời tiếp cận được các nguyên tắc cơ bản của pháp luật trọng tài quốc tế hiện đại, đặc biệt là Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của Ủy ban Pháp luật Thương mại Quốc tế của Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên trong quá trình thảo luận về Dự án Luật tại các tổ cùng còn nhiều ý kiến khác nhau. Sau đây tôi xin bày tỏ ý kiến một số vấn đề vấn đề đang còn ý kiến khác nhau đó.

Luật Trọng tài thay cho Luật Trọng tài Thương mại

Việc để tên Luật Trọng tài sẽ khắc phục được hạn chế trong việc xác định thẩm quyền của trọng tài. Nếu là Luật Trọng tài Thương mại sẽ hạn chế phạm vi thẩm quyền của trọng tài (chỉ trong lĩnh vực tranh chấp thương mại). Điều này không phù hợp với tình hình thực tiễn tại VN và xu hướng phát triển trọng tài chung trên thế giới. Pháp luật trọng tài của nhiều nước không có sự phân biệt rạch ròi giữa thương mại và dân sự, trọng tài có thẩm quyền giải quyết cả tranh chấp dân sự và thương mại. Theo tôi được biết có trên 90% số nước trên thế giới đã ban hành Luật Trọng tài chứ không phải Luật Trọng tài Thương mại.

Về phạm vi thẩm quyền của trọng tài (Điều 2), ủng hộ phương án 2 vì:

Thứ nhất: Việc dân sự là việc của các bên. Nhà nước chỉ nên can thiệp, quản lý giám sát trực tiếp các giao dịch có yếu tố công và trật tự công. Những giao dịch thương mại, kể cả khi chỉ một bên là thương nhân, thì nên để các bên tự định đoạt và quyết định, trong đó có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp. Nếu xác định phạm vi thẩm quyền của trọng tài chỉ giới hạn đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại, tức là Nhà nước đã loại bỏ một phương thức giải quyết tranh chấp rất có hiệu quả của các bên. Trên thực tế, nhiều tranh chấp dân sự có thể giải quyết bằng trọng tài và các bên mong muốn đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài do thủ tục đơn giản, linh hoạt, nhanh chóng và bí mật. Trong trường hợp này Nhà nước nên khuyến khích và tôn trọng quyền tự quyết của họ. Hiện nay, Nhà nước đang có chủ trương xã hội hóa nhiều lĩnh vực hoạt động dịch vụ công. Theo hướng đó, việc mở rộng phạm vi hoạt động của trọng tài cũng sẽ góp phần giảm tải công việc của hệ thống tòa án đang rất nặng nề hiện nay. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 3 khoản 1 của Luật Thương mại 2005 “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Như vậy, chỉ có các giao dịch nhằm mục đích sinh lợi mới có thể lựa chọn trọng tài. Điều này là không hợp lý vì:

- Sẽ phát sinh tranh chấp trong việc xác định thế nào là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi. Thực tế giải quyết tranh chấp ở nước ta cho thấy việc phân biệt các vụ việc tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh, thương mại là rất khó khăn và gây nhiều tranh cãi.

- Luật Đầu tư 2005 đã xác định trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong đó một bên là cơ quan quản lý nhà nước, mặc dù hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước không phải nhằm mục đích sinh lợi.

- Trên thực tế, hiện nay có rất nhiều chủ thể công đã và đang tham gia ngày càng nhiều vào các giao dịch dân sự (ban quản lý các dự án đầu tư công, các cơ quan hành chính sự nghiệp tổ chức đấu thầu hoặc giao kết hợp đồng, kể cả các hợp đồng mua sắm chính phủ) không nhằm mục đích sinh lợi. Theo quy định của Dự thảo thì các giao dịch này không được lựa chọn trọng tài, trong khi đó, trên thế giới không có hạn chế nào, thậm chí các định chế tài chính quốc tế như IMF, WB… còn khuyến nghị sử dụng trọng tài đối với các giao dịch này.

- Rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ quan hệ không nhằm mục đích sinh lợi, như tranh chấp do đâm va tàu, đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… Nếu hạn chế các dạng tranh chấp này không được đưa ra trọng tài giải quyết là không hợp lý, vì đó là các giao dịch dân sự thuần túy, thuộc quyền định đoạt của các bên tranh chấp. Các bên có quyền lựa chọn bất kỳ phương thức nào để giải quyết, kể cả trọng tài.

Từ những vấn đề thực tiễn trên, tôi đề nghị lựa chọn phương án 2 trong dự thảo.

Thứ hai: Tuy nhiên, liên quan đến phương án 2, tôi không tán thành việc loại trừ thẩm quyền của trọng tài đối với tranh chấp về bất động sản tại mục c khoản 2 Điều 2 của Dự thảo. Thực tế, tranh chấp liên quan đến bất động sản rất rộng, tôi đề nghị chỉ nên loại trừ các tranh chấp liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại hiện hành đã xác lập thẩm quyền của trọng tài trong việc giải quyết một số tranh chấp liên quan đến đất đai như tranh chấp về hợp đồng thuê đất, hợp đồng thuê nhà… Do vậy, nếu loại trừ các tranh chấp liên quan đến bất động sản tức là Dự luật này đã lùi một bước so với Pháp lệnh Trọng tài Thương mại hiện hành.

Về biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 48):

Tôi tán thành phương án trao thẩm quyền cho Hội đồng trọng tài được áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời vì:

- Thứ nhất, việc Hội đồng trọng tài được ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và tính hấp dẫn của phương thức trọng tài. Cụ thể là thời gian giải quyết tranh chấp được rút ngắn do các bên không phải qua thủ tục tại tòa án như quy định trước đây. Do Hội đồng trọng tài trực tiếp giải quyết vụ tranh chấp nên việc ra quyết định sẽ chính xác, đảm bảo tính  nhanh chóng, kịp thời theo đúng bản chất và ý nghĩa của biện pháp này.

- Thứ hai, quy định này tương thích với Luật Trọng tài Mẫu của Ủy ban Pháp luật Thương mại Quốc tế. Hầu hết các quốc gia đều giao thẩm quyền này cho các hội đồng trọng tài.

Về vai trò hỗ trợ và giám sát của tòa án đối với trọng tài – rất cần thiết và phải được quy định trong Dự thảo

Thực tiễn cho thấy, nếu không có sự hỗ trợ giám sát của tòa án đối với trọng tài thì trọng tài sẽ không phát huy được hiệu quả. Như chúng ta đã biết,  phương thức trọng tài tuy xuất hiện khá lâu tại VN, nhưng vẫn chưa phát huy được hiệu quả, số vụ xét xử bằng trọng tài ít, hiệu lực các phán quyết trọng tài không cao. Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình trạng đó là do pháp luật chưa có quy định đầy đủ về vai trò hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài. Với bản chất là cơ chế giải quyết tranh chấp “tư”, trọng tài có hạn chế nhất định về thẩm quyền. Thẩm quyền của trọng tài chỉ được hình thành từ thỏa thuận của các bên tranh chấp và chỉ có hiệu lực đối với các bên tranh chấp mà thôi. Trọng tài không có thẩm quyền giống như tòa án trong việc ban hành các quyết định mang tính bắt buộc, cưỡng chế đối với bên thứ ba (chẳng hạn như yêu cầu bên thứ ba cung cấp chứng cứ, triệu tập nhân chứng, phong tỏa tài khoản tại ngân hàng…). Do đó, để khắc phục sự hạn chế về thẩm quyền của trọng tài, pháp luật trọng tài quốc tế đã thiết lập cơ chế hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài nhằm đảm bảo quá trình trọng tài có hiệu quả cao nhất.
 
“Nếu giữ lại từ “thương mại” thì phải xét xem liệu khái niệm “thương mại” trong luật VN có được hiểu theo nghĩa rộng không. Về vấn đề này, Luật Trọng tài mẫu của UNCITRAL nêu rõ “thuật ngữ thương mại phải được giải thích theo nghĩa rộng, nhằm bao hàm những vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ thương mại, hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng”.
Bà Corinne Montineri – Ủy ban Liên Hợp Quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)